Vietnam Corpus Linguistics (VCL)

Researching and Developing Corpus Linguistics (Vietnam)

Trung Quốc mưu toan độc chiếm Biển Đông: Lợi bất cập hại

Posted by corling on October 23, 2011

(Tamnhin.net) – Theo hai học giả của Quỹ nghiên cứu Biển Đông, chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ, “lợi bất cập hại” và không có triển vọng thật sự.

Trong bài viết “Sai lầm của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông”, hai tác giả là thành viên của Quỹ nghiên cứu Biển Đông Đàm Quang Minh, Lê Vĩnh Trương viết những hoạt động quân sự thường xuyên của Trung Quốc –  đặc biệt tại Biển Đông – đã gây nên nhiều lo ngại cho các quốc gia Đông Nam Á.

Theo hai tác giả nói trên, nếu trước đây các quốc gia có tranh chấp đối thoại trực tiếp với Trung Quốc, thì nay họ đã hợp tác với nhau để đối phó với các chiến lược của Bắc Kinh bất chấp tầm ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa đông đảo có vai trò kinh tế lớn trong khu vực.

Sau sự kiện Trung Quốc quấy phá Cỏ Rong hồi tháng 3/2011, Philippines lần đầu tiên đã tỏ thái độ rất cứng rắn với Trung Quốc khi không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc và gửi kiến nghị lên Liên hợp quốc (5/4/2011).

Trước đó, Indonesia cũng lần đầu tiên gửi công hàm đến Liên hợp quốc phản đối “đường chữ U” (8/7/2010), mặc dù nước này không hề liên quan đến tranh chấp các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa.

Mục tiêu dầu khí?

Trong tất cả mục tiêu khi đề ra chiến lược tại Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Nam Hải), các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận định khu vực này là một Vịnh Arập thứ hai với trữ lượng dầu mỏ hàng chục tỷ tấn. Vì vậy, Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc.

Căn cứ duy nhất để Trung Quốc tham gia vào “cuộc chơi dầu mỏ” dựa vào khái niệm “vùng nước lịch sử” vì ngoài khái niệm mơ hồ này, Trung Quốc  chỉ có thể tranh chấp tại các vùng nước sâu không có tiềm năng dầu khí.

Do đó, Trung Quốc quyết tâm đưa đường chữ U dựa trên khái niệm mơ hồ “vùng nước lịch sử” mà không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế khác như Luật biển 1982.

Nhưng những tính toán mang tính chiến lược đó liệu có thực sự có hiệu quả trên thực tế?

Đầu tiên có thể thấy khu vực có dầu khí chủ yếu nằm ở phía nam và rìa của đường chữ U. Các khu vực này rất gần đất liền của các quốc gia Đông Nam Á nên có thể thấy việc duy trì lực lượng bảo vệ ở đây đối với các quốc gia này là khá dễ dàng.

Một ví dụ điển hình là khi các tàu Trung Quốc có hoạt động tại khu vực gần bờ biển Philippines thì ngay lập tức lực lượng không quân nước này sẵn sàng bảo vệ để tàu nghiên cứu của mình tiếp tục hoạt động.

Trong khi đó, Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân, không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực  xa hơn ở phía Nam Biển Đông.

Thứ hai, theo tính chất địa chất khu vực này, vùng phía bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh nên không thể hình thành dầu khí.

Khu vực phía nam lý tưởng hơn với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granit với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene.

Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía bắc hơn của khu vực.

Không chỉ có vậy, theo nghiên cứu của các quốc gia hữu quan, trữ lượng dầu khí tại khu vực đang có dấu hiệu sụt giảm sản lượng.

Các công ty dầu khí lớn của các quốc gia ven Biển Đông bắt đầu phải tìm kiếm nguồn dầu khí mới tại các quốc gia xa xôi như Châu Phi hay Châu Mỹ để đáp ứng nhu cầu gia tăng của nền kinh tế.

Do đó, có thể nói chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ và không hề có triển vọng thật sự.

Không những Trung Quốc không có được nguồn lợi dầu khí này mà còn càng trở nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài nguyên của các quốc gia trong khu vực như trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc bị từ chối khi đầu tư khai thác tại đây.

“Phát triển hòa bình” phá sản

Chính sách ngoại giao Trung Quốc luôn được nhắc đến với cụm từ “phát triển hòa bình” và Trung Quốc từng là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc.

Nhưng dường như các quốc gia lân cận đặc biệt như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á đang càng ngày càng cảm thấy quan ngại trước việc Trung Quốc đầu tư lớn vào lĩnh vực quân sự.

Cùng với nhiều tuyên bố và hành động, người ta đang thấy hình ảnh của một đế quốc đang hình thành bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và đang chuyển sang quân sự.

Các quốc gia có FDI của Trung Quốc như các quốc gia Đông Nam Á và Châu Phi bắt đầu dè dặt hơn với các khoản đầu tư bắt nguồn từ Trung Quốc với lo ngại tham vọng chính trị của các khoản tiền này.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm niềm tin rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá, bất chấp những lời lẽ ngoại giao mềm dẻo của Bắc Kinh.

Cùng với việc bắt tay chặt chẽ với Pakistan, một lần nữa Trung Quốc lại đẩy Ấn Độ vào thế phải phòng ngừa và không loại trừ khả năng Ấn Độ sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ các lực lượng ly khai tại Tây Tạng và nhích lại gần hơn với Mỹ.

Với quyết định tăng cường sức mạnh quân sự, đe dọa các quốc gia lân cận…, chắc chắn hình ảnh “phát triển hòa bình” của Trung Quốc sẽ được thay bằng một hình ảnh một đế quốc mới muốn thể hiện sức mạnh của mình.

Điều này chưa chắc đã có lợi cho sự phát triển trung và dài hạn của Trung Quốc.

Tự cô lập

Với yêu sách ngày càng gia tăng trong khu vực, Trung Quốc đang khiến các quốc gia Đông Nam Á càng ngày càng nỗ lực trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Việt Nam và Malaysia đã đưa kiến nghị chung về đường cơ sở vào năm 2009 và Philippines cũng phản đối đường chữ U của Trung Quốc tại Liên hợp quốc trong năm 2011.

Theo xu thế này, các quốc gia Đông Nam Á với tinh thần xây dựng một cộng đồng chung sẽ có thể nhanh chóng đề xuất và đạt được thỏa thuận vùng biển chung cho khu vực Đông Nam Á.

Nếu đề xuất này thành hiện thực, Trung Quốc sẽ thực sự bị cô lập trong vấn đề Biển Đông và thường xuyên phải đối phó với lực lượng tuần tra chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Chiến lược sai lầm này gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của khu vực và của chính bản thân Trung Quốc. Rất đáng tiếc là chiến lược này vẫn đang tiếp tục được thi hành với mức độ ngày càng gắt gao.

Chỉ có điều, các nước đang tranh chấp không dễ chấp nhận khuất phục Trung Quốc. Mối liên kết chặt chẽ giữa Mỹ và Phillipines, mối quan tâm (cho đến nay) rất đúng mức của Indonesia – nước Hồi giáo lớn nhất thế giới – đối với vấn đề Biển Đông là những phản hồi mạnh mẽ đối với  chiến lược biển của Trung Quốc.

Như vậy có thể nói, tham vọng lớn nhất về dầu khí của Trung Quốc chắc sẽ khó đạt được. Ngoài ra khoản tiền đầu tư khổng lồ cho chiến lược biển cùng với chi phí duy trì lực lượng hải quân nhằm kiểm soát các khu vực quá xa căn cứ sẽ là gánh nặng khổng lồ cho ngân sách.

Không những thế, Trung Quốc tự đánh mất hình ảnh “phát triển hòa bình” dày công xây dựng nhiều năm qua bằng những yêu sách phi lý dựa trên các chứng cứ không được công nhận và thái độ gây hấn gia tăng.

Minh Bích (nguồn BBC, 12/6/2011)

Theo Tầm Nhìn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: