Vietnam Corpus Linguistics (VCL)

Researching and Developing Corpus Linguistics (Vietnam)

Mấy suy nghĩ từ hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc 2010

Posted by corling on June 8, 2010

Ths. Đào Tiến Thi

(Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)

Tôi không dự được nhiều các hội thảo ngữ học thường niên, nhưng mỗi lần đi dự đều có nhiều chuyện cảm động. Trước hết là số lượng người đến dự. Đi hội thảo ở nước ta, phần khoa học thường chỉ giữ vị trí “khiêm tốn”, còn lại là các quyền lợi khác, kể cả chuyện “phong bì”. Riêng hội thảo ngôn ngữ học, tôi thấy hầu như không bao giờ có phong bì, kể cả cho báo cáo viên. Thế mà vẫn thu hút rất đông người về dự, đặc biệt là giới trẻ, đó là điều hiếm thấy hiện nay. Cái gì đã hấp dẫn “khách thập phương” đến vậy? Có nhiều nguyên nhân, nhưng tôi đoan chắc có một nguyên nhân quan trọng là tình yêu tiếng mẹ đẻ. Tình yêu này không nồng nàn như các tình cảm khác, nhưng vẫn âm thầm cháy trong lòng mỗi người, chỉ cần biết đánh thức nó, đúng như câu thơ anh Phạm Văn Tình đọc trong lễ bế mạc hội thảo năm nay:

Vượt qua ngàn dặm xa xăm

Tiếng cha ông, ngọn lửa thầm trong ta

Tôi không có điều kiện khái quát toàn bộ hội thảo (và việc này chắc anh Phạm Văn Tình sẽ có bài tổng luận vừa khoa học vừa văn chương như mọi năm), tôi chỉ nêu đôi điều cảm nhận về những gì mình thấy.

Trước hết là tinh thần dân chủ. Chưa phải là dân chủ như tôi mong ước nhưng so với các hội thảo khác mà tôi đã dự thì hội thảo ngôn ngữ học của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam (phối hợp với các đơn vị đồng tổ chức) là dân chủ hơn cả. Ai có tham luận thì có giấy mời (giấy mời cũng rất giản dị, chỉ là tờ A4 đánh máy, khác hẳn nhiều giấy mời theo kiểu “thiệp mời” chơi sang bằng giấy cứng xanh đỏ thường thấy hiện nay), ngoài ra, ai yêu thích cứ việc đến theo thông báo của ban tổ chức trên các phương tiện truyền thông. Các tham luận hễ đăng kí là được đưa vào danh mục, bất kể tác giả ở địa vị, chức danh nào. Một cô giáo tiểu học hay một người “tự do” không chút bằng cấp đều có thể tham luận tại hội thảo. Danh mục tên người tham luận xếp theo A, B, C, không kèm theo chức danh, học hàm, học vị. (Nhiều hội thảo, hội nghị bây chỉ thấy sáng trưng học hàm học vị và địa vị xã hội, còn nội dung khoa học thì chẳng thấy đâu). Đây là một tế nhị rất đáng ghi nhận, thể hiện tinh thần bình đẳng trước khoa học. Nó cũng nhắc nhở khéo các vị có học hàm, học vị và địa vị cao không dùng nó làm quyền uy thay thế khoa học; nó cũng giúp những người bằng cấp thấp, địa vị thấp tránh sự mặc cảm, sự tự ti, để yên tâm theo đuổi luận điểm khoa học của mình.

Vì số lượng tham luận khá lớn nên không thể được trình bày tất cả ở hội thảo, và trình tự trước sau cũng là một vấn đề. Ban điều hành có một số ưu tiên nhất định thì cũng rất hợp tình, hợp lí. Đó là ưu tiên cho các báo cáo viên ở xa và các báo cáo viên người nước ngoài. Nhiều “đại ca” trong làng ngôn ngữ học có tham luận nhưng đã không trình bày ở hội thảo, để dành thời gian cho các đối tượng trên.

Về những điều cần rút kinh nghiệm, theo tôi có mấy điểm sau:

Trước hết, về thành phần tham dự, theo quan sát của tôi, chủ yếu vẫn là “dân chuyên nghiệp”, đó là giảng viên các môn học thuộc về ngôn ngữ học của các trường đại học, cao đẳng và các nghiên cứu viên của các viện nghiên cứu ngôn ngữ. Rất thiếu vắng các biên tập viên của các nhà xuất bản và các cơ quan báo chí (cùng với “sếp” của họ là các tổng biên tập), các giáo viên dạy phổ thông (Cùng cới “sếp” của họ là các chuyên viên chỉ đạo chuyên môn các cấp). Nghĩa là cuộc bàn luận chủ yếu diễn ra với những nhà “lập pháp”, còn những nhà “hành pháp” thì lại đứng ngoài. Thực ra, chính các biên tập viên của các cơ quan xuất bản, báo chí, các giáo viên phổ thông mới là người “đối mặt” trực tiếp và thường xuyên với các vấn đề của ngôn ngữ học, đặc biệt là Việt ngữ học. Câu đúng, câu sai, câu đơn, câu ghép, rồi viết hoa, rồi thuật ngữ, chính tả tên riêng, v.v., những người “hành pháp” không thể dễ làm khó bỏ như các nhà “lập pháp”. Theo sự quan sát của chúng tôi, độ vênh giữa NGỮ PHÁP (các quy tắc do giới khoa học đặt ra) với “ngữ pháp” (các quy tắc đang sống thực trong cộng đồng) có độ vênh khá lớn. Ở đây bộc lộ rất nhiều bất cập của lí thuyết “chính thống” được nêu trong các giáo trình và sách giáo khoa với thực tiễn sử dụng ngôn ngữ. Sinh thời, học giả Cao Xuân Hạo cũng đã nhiều lần cảnh báo vấn đề này. Còn bản thân tôi, qua nhiều năm giảng dạy phổ thông rồi bây giờ làm nghề biên tập sách càng thấy rõ. Giờ học môn Tiếng Việt nếu có người dự thì hầu hết giáo viên chỉ dám minh hoạ bằng ví dụ sẵn có trong sách giáo khoa, chứ nếu cho học sinh lấy ví dụ, ông thầy sẽ lúng túng, sẽ lâm vào trận đồ bát quái ngay. Cho một đoạn văn của Tô Hoài (tiêu biểu cho phong cách “bình dân”) hay Nguyễn Tuân (tiêu biểu cho phong cách” bác học”) đều có thể gặp rắc rối, vì ít nhất có tới năm mươi phần trăm số câu “sai” ngữ pháp! Làm sách cho nhà trường, chúng tôi và các soạn giả thường làm thao tác “gọt chân cho vừa giày”, cái điều không muốn nhưng vẫn phải làm. Mong sao các hội thảo tới, có tiếng nói phản hồi của các nhà “hành pháp”, họ không muốn đi thì bằng mọi cách  “lôi” bằng được họ đi.

Về điều hành hội thảo, với số lượng tham luận lớn như hiện nay, dù cố gắng làm kiểu nào cũng không thể trình bày hết trong hội thảo. Cho nên một mặt vẫn thu nhận tất cả các tham luận để đưa vào kỉ yếu, nhưng tại hội thảo thì nên chọn một số lượng hợp lí phù hợp với quỹ thời gian. Ưu tiên cho các tham luận có chất lượng và các tham luận mà đề tài có tính thời sự. Tham luận nào đã chọn trình bày đều nên được thảo luận kĩ cho đến khi chí ít bật ra được điều gì.

Nên chăng, ngoài các tiểu ban như thông lệ, ở đó các vấn đề tham luận được tự do lựa chọn, thì có lẽ nên có thêm một tiểu ban dành cho một vấn đề duy nhất. Ví dụ, vấn đề tiếng Việt trong nhà trường, tiếng Việt với giới trẻ, vấn đề dạy ngoại ngữ, vấn đề chính sách ngôn ngữ, v.v.. Như thế, ngoài bề rộng,  mỗi năm sẽ có một vấn đề được đi sâu.

Cuối cùng, có một “chuyện nhỏ” này cũng xin được nêu ra: Trong mỗi tiểu ban hội thảo, thường đều có người nước ngoài tham dự, hầu hết họ là nghiên cứu sinh tại Việt Nam. Ngồi dự hội thảo, một số vị là thầy dạy họ, một số không phải thầy dạy trực tiếp nhưng cũng là những bậc thầy, cho nên các bạn nghiên cứu sinh này đều xưng hô với các bậc tuổi tác theo kiểu thầy – trò, đúng truyền thống Việt Nam. Điều đó là tốt nhưng ta không nên lạm dụng. Trong hội nghị, phải coi họ là những đại biểu của khoa học như những đại biểu khác. Vì thế nên gọi “ông/ bà” hoặc “anh/ chị” cộng với tên riêng. Tên của họ có trong danh mục để trước mặt, việc đọc tên không khó lắm, không phải không khắc phục được. Chỉ cần nghe các vị ban điều hành đọc vài lần là có thể đọc được. Tránh cách gọi “anh Nhật Bản”, “chị Thái Lan” khi nhận xét, thật không hay trên nhiều phương diện. Nhất là đây lại toàn dân ngôn ngữ học, chẳng lẽ lại thiếu chữ.

Mấy điều thành thực trên, nếu không phải, xin các bậc cao minh chỉ giáo.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: