Vietnam Corpus Linguistics (VCL)

Researching and Developing Corpus Linguistics (Vietnam)

Về vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Posted by corling on March 21, 2010

ĐÀO Hồng Thu

T/T Công trình khoa học, tháng 10/1996, tr.17-23, ĐHBK Hà Nội, (1996)

Tóm tắt

Khi học sinh đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học thì quá trình này là quá trình hoạt động tri thức sáng tạo. Ở đây, người thầy là người hướng dẫn và luôn luôn đi đầu trong mọi hoạt động sáng tạo của cả quá trình học tập.

                                                    Abstract                                 

Studying process would be active and creative if students would seem to be in its centre. Teachers being the leaders play key role and are always the first in all the creative activities of this process.

 

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước thời mở cửa, ngành giáo dục phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng. Thực tế ngày càng chứng minh rằng trong quá trình học, người học đòi hỏi kiến thức, thông tin rộng hơn và nhiều hơn. Đồng thời cũng thấy rõ nhược điểm là người học lúng túng về việc tiếp nhận và lựa chọn nguồn thông tin đa dạng hiện nay. Vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã được đề cập đến khá nhiều trong các tài liệu dạy học ở trong nước và ngoài nước. Ở Việt Nam hiện nay, có nhiều ý kiến bàn bạc, tranh luận về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng cần thiết phải lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy và học, song lại coi nhẹ vai trò của người dạy. Ngược lại, có ý kiến nêu rằng việc lấy học sinh làm trung tâm là không đúng hoặc không phù hợp với thực tiễn dạy học ở nước ta. Vấn đề lấy người học làm trung tâm là vấn đề còn mới đối với người dạy do trước đây quan niệm chủ yếu là người dạy truyền đạt kiến thức cho người học, quá trình học thường là tiếp nhận thụ động. Vì vậy, mặc dù đã thấy vấn đề trên là cần thiết trong giai đoạn hiện nay và sau này, người dạy chưa được trang bị đủ cơ sở lí luận về “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Việc “lấy học sinh làm trung tâm” mới chỉ được thực hiện ở mức để cho học sinh phát biểu ý kiến, cho học sinh thảo luận theo nhóm … Dạy học cũng như mọi quá trình tự nhiên, trải qua thời kì hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài của mình. Ở nước ta, mầm mống tư tưởng dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã có từ lâu. Chúng ta có thể thấy được điều này qua các câu ngạn ngữ “Học thầy không tày học bạn”, “Không thầy đố mày làm nên”, “Học một biết mười” … Sau cách mạng tháng Tám 1945, ở nước ta đã có các phong trào học tập dân chủ, học tổ học nhóm, có chủ trương biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh. Giáo sư Lê Khánh Bằng đã đề cập đến vấn đề “lấy học sinh làm trung tâm trên hai phương diện vĩ mô và vi mô, ở đây người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của người học, đến những đặc điểm tâm sinh lí và các cấu trúc tư duy của từng người” (Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tr.14).

1. Trên phương diện vĩ mô, trong quá trình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, cần phải chú ý đến những yêu cầu của xã hội được phản ánh vào mong muốn của học sinh và đáp ứng được những yêu cầu đó. Học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên là nhân vật quyết định chất lượng. Một cách khái quát, người dạy đại diện cho nhà trường, đại diện cho hệ thống giáo dục. Mối quan hệ giữa nhà trường với người học thực chất là quan hệ của nhà trường và yêu cầu của xã hội.

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm về mặt vĩ mô phải thỏa mãn được hai yêu cầu cơ bản là:

- Thứ nhất là sản phẩm hệ thống giáo dục quốc dân và nhà truờng đào tạo ra đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội. 

     – Thứ hai là chú ý đầy đủ lợi ích của học sinh, tức là quan tâm đến các đặc điểm tâm sinh lí và các điều kiện kinh tế xã hội của học sinh, tạo cho học sinh có niềm vui và hạnh phúc trong học tập.

Hai yêu cầu này đôi khi mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, khi mâu thuẫn này nẩy sinh, cần có các cách giải quyết phù hợp.

2. Trên phương diện vi mô (trong quá trình dạy học), việc lấy học sinh làm trung tâm gồm 4 điểm cơ bản sau:

- Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào (người học), tức là từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học. Ở đây, cần thấy học sinh là học sinh như nó đang tồn tại, với những ưu điểm và nhược điểm, những điều chưa biết và đã biết. Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của học sinh.

- Cần đòi hỏi học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, không tiếp thu một cách thụ động. Học sinh cần tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động.

- Thực hiện phân hóa, chú ý đến tư duy của từng học sinh, không gò bó theo cách suy nghĩ đã định trước của giáo viên.

- Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của mình tiến tới tự đào tạo và giải quyết các vấn đề lí luận và thực tiễn một cách độc lập, sáng tạo.

Trong quá trình học tập lấy học sinh làm trung tâm, người dạy đóng vai trò rất quan trọng. Muốn thực hiện dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người thầy vừa phải chú ý đến người học, vừa phải chú ý đến điều phải học. Giáo viên là người hướng dẫn, vì vậy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời để làm gương tốt cho học sinh. Người thầy phải là người có khả năng tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của học sinh, giúp học sinh học tập tốt. R.R.Singh đã viết: “Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên không chỉ là người truyền thụ những kiến thức riêng rẽ. Giáo viên giúp cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh vực học tập ngày càng rộng lớn hơn. Giáo viên đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực cho học sinh. Giáo viên không phải là chuyên gia ngành hẹp, mà là một cán bộ tri thức, là người học hỏi suốt đời. Trong việc thực hiện quá trình dạy học, người dạy và người học cùng nhau tìm tòi khám phá. Theo S.Raxếch thì với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình học tập tự lực, với sự đề cao trí sáng tạo ở người học thì sẽ khó duy trì mối quan hệ đơn phương và độc đoán giữa thầy và trò. Quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự thụ động và dốt nát của học sinh, mà là dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào sự phát triển của học sinh thông qua sự tham gia tích cực của các em … Một giáo viên sáng tạo là người biết giúp đỡ học sinh tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học. Giáo viên phải là người hướng dẫn, người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức.”

Xuất phát từ những nghiên cứu khoa học về phản xạ có điều kiện (học thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlop) và thí nghiệm của Skinner, các nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm về dạy và học. Pavlop nhấn mạnh mặt dạy. Mục đích, nội dung dạy do người dạy quyết định. Phương pháp dạy thiên về truyền đạt bài học, coi trọng củng cố. Hiệu quả phụ thuộc vào kinh nghiệm của người dạy. Skinner nhấn mạnh mặt học. Bài học đặt ra vì lợi ích của người học. Người học tự lựa chọn cách học có hiệu quả. Tiến độ học do người học quyết định. Theo Skinner, con người không đơn giản chỉ thụ động trả lời các kiến thức từ môi trường bằng phản xạ, mà còn phản ứng có ý thức bằng hành động chủ động được thao tác trên các đối tượng trong môi trường. Các nhà phương pháp vận dụng quan niệm của Pavlop và Skinner vào quá trình dạy học dưới những góc độ khác nhau, bổ sung cho nhau. Quan niệm của Skinner gần với kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên, quan niệm này khó vận dụng vào những nhiệm vụ phức tạp như học lái ôtô, máy bay theo lối thử – sai. Dạy học là một quá trình rất phức tạp, đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều học thuyết.

Trong quá trình phát triển, kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm ngày càng được chú ý so với kiểu dạy học lấy giáo viên làm trung tâm. GS.Lê Khánh Bằng đã đưa ra so sánh sau:

Giáo viên làm trung tâm Học sinh làm trung tâm
I. Nội dung I. Nội dung
1. Sự kiện, thông tin có sẵn 1. Các khái niệm, vấn đề
II. Phương pháp II. Phương pháp
2. Ghi nhớ 2. Sự tìm tòi
3. Tập trung vào bài giảng 3. Khám phá và giải quyết vấn đề
4. Người nghe thụ động 4. Người học chủ động tham gia
5. Giáo viên chiếm ưu thế, có quyền lực 5. Giáo viên là người điều khiển, thúc đẩy, tìm tòi
III. Môi trường III. Môi trường
6. Không khí lớp học hình thức, máy móc 6. Tự chủ, thân mật, không hình thức
7. Sắp xếp chỗ ngồi cố định, giáo viên chiếm vị trí trung tâm 7. Chỗ ngồi linh hoạt
8. Dùng kĩ thuật dạy học ở mức tối thiểu 8. Sử dụng thường xuyên các kĩ thuật dạy học
IV. Kết quả IV. Kết quả
9. Tri thức có sẵn 9. Tri thức tự tìm
10. Trình độ phát triển nhận thức thấp, có hệ thống. Chủ yếu là ghi nhớ 10. Phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm và hành vi
11. Phụ thuộc vào tài liệu 11. Tự tin
12. Chấp nhận các giá trị truyền thống 12. Biết tự xác định các giá trị

Trên thực tế, hai phương pháp này được kết hợp với nhau khá chặt chẽ. Trong quá trình dạy học ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội, sự kết hợp này thể hiện khá rõ nét. Sinh viên khi bước vào học chuyên ngành không thể biết lí thuyết của ngành khoa học mình sắp học được. Lúc này phải sử dụng kiểu dạy học lấy giáo viên làm trung tâm. Sau một thời gian, người học mới có thể chủ động tìm tòi và tham gia tích cực vào quá trình học tập. Đến giai đoạn thực tập tại các cơ sở sản xuất, ở các công ty thì việc sử dụng “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” hoàn toàn chiếm ưu thế. Ở đây, trọng tâm hoạt động được chuyển từ giáo viên sang sinh viên, làm cho người học phải huy động toàn bộ chức năng tâm lí, nhân cách và các điều kiện của bản thân để chủ động phấn đấu đạt được mục tiêu giáo dục do thầy giáo và nhà trường đặt ra.

Vấn đề “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” được hiểu đúng và đầy đủ trong trường hợp không chỉ có người dạy mà cả người học thấy rõ được quá trình dạy và học luôn gắn liền với đời sống xã hội. Ngày nay, để thích ứng với cơ chế thị trường, thanh niên học sinh đã có những chuyển biến về mục đích, động cơ học tập. Thay cho mục đích cứng nhắc trước kia, học để trở thành cán bộ nhà nước, có việc làm ổn định suốt đời là học để chuẩn bị cho cuộc sống, cho có việc làm ngày càng tốt hơn. Thay cho tâm lí ỷ lại là sự tháo vát, tự xoay xở. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về sử dụng lao động, tiền lương, đãi ngộ, khắc phục tiêu cực … thanh niên ngày nay đã ý thức được rằng học giỏi trong nhà trường đồng nghĩa với thành đạt trong cuộc đời, phấn đấu trong học tập là con đường tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí kinh tế, xã hội phù hợp với năng lực của họ. Điều này đòi hỏi nhà trường phải thay đổi nhiều về nội dung, phương pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt hơn cung cấp cho thị trường lao động. Việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm ngày càng có thuận lợi để phát triển nhanh chóng. Các biện pháp cơ bản có thể là:

- Mềm hóa quá trình đào tạo. Đây là biện pháp chung và cơ bản để phát huy cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên. Bản chất của học chế là sự mềm dẻo từ mục tiêu, nội dung, phương thức đến quy trình học tập. Có thể cho phép sinh viên không phải lên lớp nghe giảng ở một số môn, cho phép sinh viên học vượt, học chậm lại … Phương thức và quy trình đào tạo cũng không nhất thiết phải giống nhau. Mục đích của việc tổ chức quá trình đào tạo mềm dẻo là nhằm kích thích tinh thần tích cực, chủ động của sinh viên thông qua việc sinh viên tự xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập, cũng như việc lựa chọn phương thức học tập thích hợp cho bản thân trong phạm vi cho phép. Học chế mềm dẻo đòi hỏi phải cải tiến việc quản lí và kiểm tra kết quả học tập, đòi hỏi việc xây dựng các quy chế mới về giáo vụ;

- Thực hiện cá biệt hóa, phân hóa và sàng lọc qua các giai đoạn và các năm học;

- Nhà trường, khoa, bộ môn công bố mục tiêu, nội dung, kế hoạch, các giai đoạn và quy trình đào tạo cho sinh viên biết ngay từ đầu khóa học, năm học, môn học để họ có thể chủ động thiết kế quá trình học tập của mình;

- Giảm tỉ lệ diễn giảng tùy theo bộ môn, chú ý sử dụng kết hợp các kiểu dạy thông báo, nêu vấn đề, nghiên cứu, chương trình hóa;

- Tăng cường và nâng cao hiệu suất quá trình tự học của sinh viên;

- Tăng cường giúp đỡ riêng bằng cách cho học sinh đăng kí lần lượt gặp gỡ, trao đổi những vấn đề về học tập và nghiên cứu khoa học;

- Soạn thảo các tài liệu hướng dẫn học tập chung và cho từng bộ môn, in và bán tài liệu cho sinh viên;

- Phát huy vai trò của các đoàn thể học sinh, các nhóm nhà khoa học trẻ, câu lạc bộ khoa học để tạo không khí hăng say học tập, nghiên cứu trong sinh viên;

- Tăng cường các loại bài tập sáng tạo, bài tập tình huống để học sinh suy nghĩ tìm ra các phương án giải quyết tối ưu;

- Kiểm tra, thi cử khách quan, khuyến khích sinh viên có những ý kiến sáng tạo, tránh gò ép theo quan điểm duy nhất của giáo viên.

Để đảm bảo chất lượng đầu ra, tức là để khi tốt nghiệp sinh viên thực sự có khả năng góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội tiến lên, có thể sử dụng các biện pháp sau:

- Định mục tiêu đào tạo cụ thể đạt các yêu cầu: thích đáng, thực hiện được;

- Chú trọng đến yêu cầu về năng lực thực hành nghề nghiệp khi xây dựng đầu ra của bộ môn;

- Thay đổi cách tuyển chọn học sinh (đầu vào) sao cho phù hợp với yêu cầu đầu ra của từng chuyên ngành. Vì vậy, khi xét đầu vào phải xét đủ các mặt về thể lực, tâm lí, trình độ văn hóa, năng khiếu … sao cho phù hợp với yêu cầu của đầu ra;

- Hướng các bộ môn cơ bản, chuyên ngành vào mục tiêu đào tạo;

- Chú ý rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp từ thấp đến cao theo những qui luật và qui trình nhất định;

- Thực hiện việc đánh giá sinh viên chủ yếu dựa trên kĩ năng vận dụng và sự thành thạo trong nghề nghiệp mà không phải chỉ dựa trên một số các tri thức học sinh đã nắm được;

- Yêu cầu mỗi sinh viên có đủ tài liệu và vở ghi, vở bài tập, vở thực hành, sổ nghiệp vụ, hồ sơ nghiệp vụ ….

Vấn đề “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đã chứng minh được sự đúng đắn của nó còn ở phương diện lỗi thời hay vẫn mang tính thời đại. J.Brunow (Mĩ) là một tác giả có ảnh hưởng lớn trong giáo dục, đã đi sâu vào lí thuyết hình thành khái niệm trong giảng dạy và phương pháp học tập tìm tòi khám phá. Trong khi phân tích những điều kiện để giảng dạy khái niệm có hiệu quả, Brunow đã nhấn mạnh rằng học sinh phải sử dụng vốn kinh nghiệm liên quan tới khái niệm đang học để đưa ra những ví dụ cụ thể. Học sinh phải được tham gia tích cực vào việc thảo luận những chi tiết phù hợp hay không phù hợp với nội dung khái niệm đó. Trong khi xác định những điều kiện để tiến hành có hiệu quả phương pháp học tập khám phá, Brunow nêu điều kiện đầu tiên là giáo viên phải biết vận dụng phương pháp này phù hợp với lứa tuổi, năng lực, hứng thú và nhu cầu của trẻ.

Tại Nhật bản, hội đồng quốc gia cải cách giáo dục đã đề ra ba yêu cầu thiết yếu của cải cách giáo dục là:

- Thực hiện việc chuyển sang hệ thống giáo dục suốt đời;

- Chú trọng hơn nữa vai trò quan trọng của tính cách mỗi con người;

- Làm cho giáo dục phù hợp hơn với những thay đổi của thời đại. Mục tiêu cơ bản là nhấn mạnh những tri thức kĩ năng cơ sở và cơ bản cần cho mọi công dân, tạo điều kiện cho trẻ phát triển đầy đủ cá tính của mình.

Ở Pháp, định hướng giáo dục 10 năm, về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy học sinh làm trung tâm. Hội đồng quốc gia về chương trình giảng dạy thành lập năm 1990 đã quan tâm, một mặt, làm cho chương trình các môn học thích ứng với thế giới hiện đại, mặt khác, giúp cho học sinh học tập tốt hơn bằng cách coi trọng việc rèn luyện phương pháp tự giành lấy kiến thức ngay từ bậc tiểu học, khuyến khích việc cá thể hóa nhịp độ học tập, mở rộng các môn tự chọn.

Bản thân thuật ngữ giáo dục học (pedagogico) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp: paidos có nghĩa là trẻ em. Từ đầu, giáo dục học đã được hiểu là nghệ thuật dạy học, hoặc là nghệ thuật giáo dục trẻ em. Giáo dục xã hội chủ nghĩa khi nhấn mạnh mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách của mọi học sinh theo yêu cầu của xã hội đã không quên chú ý tới tính đa dạng của nhân cách trẻ em. N.A.Menchinskaia đã viết: “Nhiệm vụ phát triển toàn diện học sinh và nâng cao hiệu quả giảng dạy chỉ có thể được giải quyết tốt đẹp với điều kiện phát hiện cả những qui luật chung của việc học tập cũng như những khác biệt cá thể.” Công tác cải tiến phương pháp giảng dạy phải được phối hợp một cách hữu cơ với việc tìm ra những phương pháp đối xử cá biệt có hiệu quả nhất. Việc phát huy tiềm năng của mỗi cá nhân học sinh không chỉ có ý nghĩa ngay trong quá trình dạy học, mà còn chuẩn bị cho các em đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước sau này.

Tóm lại, trong quá trình chuyển từ kiểu dạy học truyền thống sang kiểu dạy học mới có sự thay đổi về tỉ trọng và nội dung vai trò của người dạy và người học. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm phát huy được vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh, đồng thời đề cao hơn vai trò của người thầy. Ở đây, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức năng lực tiềm tàng trong mỗi em, chuẩn bị cho học sinh tham gia tích cực vào phát triển cộng đồng.

Đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học – với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện, thiết bị hiện đại để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội. Đó chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Đây là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi sự hoạt động mạnh mẽ, có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các cấp, ban, ngành và đội ngũ giáo viên. Giải quyết tốt vấn đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục, thúc đẩy quá trình học tập của học sinh dẫn tới giải quyết tốt vấn đề đầu ra, đáp ứng được nhu cầu cần thiết của xã hội.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Khánh Bằng (biên soạn, biên dịch và sưu tầm, 1994). Tài liệu hướng dẫn nghiên cứu và tham khảo về phương pháp dạy học đại học và công nghệ dạy học.
  2. Đặng Văn Đức, Lê Khánh Bằng (1995). Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
  3. Tuyển tập về công nghệ đào tạo đại học. Hà Nội, 1995.
  4. Phương pháp dạy học đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1995.
About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: